|
|
|
1. Dân số lao động Tổng số hộ toàn phường hiện có 4.339 hộ, nhân khẩu: 19.987 người, trong đó nhân khẩu nữ: 10.158 người. Số người trong độ tuổi lao động: 7.734, nữ lao động chiếm 4.667 người. Nguồn lao động hàng năm đều có công việc làm ổn định, số giải quyết việc làm trên 800 người mỗi năm. 2. Đất đai Tổng diện tích tự nhiên toàn phường: 136,80ha. + Đất nông nghiệp: Trong đó: đất nông nghiệp là 18,60ha là đất canh tác chủ yếu trồng rau, màu là 17ha và 1,6ha diện tích ao hồ. + Đất ở: diện tích 69,94ha, chiếm 51,12% được phân bổ cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo hướng đô thị hóa. + Đất chuyên dùng: diện tích là 28,55, chiếm 20,87% và có xu hướng tăng hàng năm do nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống. + Đất tôn giáo, tín ngưỡng: diện tích 1,52ha chiếm 1,11% do các tôn giáo quản lý sử dụng mục đích tín ngưỡng, thờ cúng. + Đất nghĩa trang, nghĩa địa: diện tích 2,24ha chiếm 1,63% do các tôn giáo quản lý sử dụng. + Đất sông, suối, mạch nước chuyên dùng: diện tích 15,95ha chiếm 11,66% do UBND phường quản lý theo quy định. Tình hình biến động về mục đích sử dụng đất và đối tượng sử dụng đất trên địa bàn phường giai đoạn từ 01/01/2006 đến 01/01/2007 là không có. Mục đích đất được sử dụng nhiều cho đất phi nông nghiệp chiếm 86,40%, đất nông nghiệp chiếm 13,59%. Đất chưa sử dụng là không có. 3. Giao thông - Điện Phường Tân Mai xã hội hóa giao thông trên các đường con đường chính, ngõ hẻm đều được tráng nhựa bêtông, xi măng. Thuận tiện cho việc đi lại của người dân, các con đường sạch sẽ, có đèn điện phục vụ ban đêm, hệ thống giao thông luôn được đánh giá cao do có sự kết hợp đồng bộ giữa nhà nước và nhân dân cùng làm, với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Là phường thuộc thành phố Biên Hòa, có hệ thống và các khu nhà ở kết hợp giao thông đường bộ phù hợp với kinh tế - xã hội hiện có của địa phương, được công nhận là phường Văn Hóa cấp thành phố. Diện tích của phường phân bổ dùng cho đất ở theo hướng đô thị hóa chiếm khoảng 51,12% toàn phường. Kinh tế của phường theo hướng thương mại - dịch vụ - sản xuất tiểu thủ công nghiệp, đất nông nghiệp chỉ có 18,60 ha chủ yếu canh tác rau, màu kết hợp tận dụng mặt nước sông Đồng Nai để nuôi cá bè. Dân cư của phường phân bổ không đồng đều, tập trung ở khu phố là số đông cán bộ về hưu, dọc theo đường 5, Đồng Khởi, quốc lộ 15 là các hộ buôn bán tại khu phố 1,2,3,4. Một phần khu phố 5 và khu phố 6 các hộ nông dân trồng rau, nuôi cá bè, và làm nghề đan lát mây tre lá… 4. Thông tin liên lạc Đã được phủ toàn phường về các phương tiện nghe nhìn, số hộ dùng thông tin liên lạc đều thực hiện đúng quy định, việc liên hệ, liên lạc và các quan hệ giao dịch thuận tiện nhanh chóng và hiệu quả trong các giao dịch phát triển tốt về mọi mặt phục vụ các nhu cầu đích thực cần thiết cho xã hội và người dân địa phương. 5. Đánh giá chung Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của UBND thành phố và Đảng ủy, sự chủ động của UBND và sự phối hợp, hỗ trợ cuả các ban, ngành đoàn thể cuả phường, kết quả thực hiện các chỉ tiêu giao quân, thu thuế và các loại quỹ năm 2006 đều đạt và vượt kế hoạch, đặc biệt năm 2006 thu lao động công ích vừa bằng tiền mặt vừa huy động bằng ngày công đạt 104,52% theo kế hoạch (so cùng kỳ đạt 113,61%). Sản xuất Tiểu thủ công nghiệp – Nông nghiệp, Thương mại – Dịch vụ so cùng kỳ đều tăng đáng kể. Các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp đều có việc làm ổn định, đảm bảo đời sống cho người lao động. Công tác quản lý, kiểm tra các hoạt động Thương mại - Dịch vụ được tiến hành thường xuyên, không để xảy ra vi phạm nghiêm trọng. Các cơ sở dịch vụ vi phạm được phát hiện kịp thời và xử lý kiên quyết. Phường đã thực hiện nghiệm việc ngưng chăn nuôi gia cầm Tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, không xảy ra vụ trọng án nào. Vệ sinh môi trường được đảm bảo. Việc phòng chống tệ nạn xã hội được làm thường xuyên, được thành phố tái công nhận là phường làm tốt công tác phòng chống tệ nạn xã hội. Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tranh chấp phường đã giải quyết tốt, không còn tồn đọng. Việc cải cách thủ tục hành chánh và thực hiện cơ chế một cửa được cấp trên kiểm tra và đánh giá là phường làm tốt và đi đầu trong công tác cải cách thủ tục hành chánh. Trong năm đã tổ chức long trọng lễ đón nhận bằng “phường văn hóa” và tái công nhận khu phố văn hóa cho 6 khu phố một cách trang trọng. Quan tâm tặng quà các gia đình nghèo, gia đình chính sách, các vị lão thành cách mạng trong dịp lễ, Tết. Công tác giáo dục năm học 2005 – 2006, các trường đều hoàn thành tốt nhiệm vụ, tỷ lệ học sinh khá, giỏi đạt trên 70%, tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 100%. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn một số tồn tại chủ yếu như Công tác tuyên truyền pháp luật phường có phối hợp với Mặt trận, khu phố tổ chức các buổi học tập nhưng nhân dân tham dự không đông đủ nên chưa có tác dụng nhiều. Việc thực hiện 5 mặt công tác về lập lại trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị – vệ sinh môi trường, phòng chống tệ nạn xã hội và phòng chống tội phạm được duy trì, kiểm tra xử lý thường xuyên nhưng việc chấp hành của người dân chưa cao, thậm chí còn tội phạm nên đã ảnh hưởng đến công tác quản lý của địa phương. Tình trạng phơi quần áo, lấn chiếm lòng lề đường buôn bán, đậu xe, tuy có dọn dẹp nhưng làm chưa được liên tục, thường xuyên vì lực lượng con người, kinh phí hoạt động còn hạn chế nên đã ảnh hưởng đến giao thông, vệ sinh môi trường mỹ quan đô thị. Về giải phóng mặt bằng đường 4 KP2, mặc dù, địa phương đã phối hợp với các Phòng, Ban thành phố vận động, giải thích nhiều lần đối với các hộ chưa hiến đất, nhưng đến nay vẫn còn 7 hộ chưa hiến đất giải phóng mặt bằng, vì các hộ này đòi phải bồi thường đất và ở tại chỗ. Công tác xã hội hóa giao thông khu phố tuy có nhiều cố gắng nhưng so với yêu cầu thì làm còn chậm. Việc giữ vệ sinh môi trường được thường xuyên chú trọng. Địa phương đã tổ chức được phong trào hàng tháng, hàng tuần tổ chức tổng vệ sinh. Thực hiện phong trào “xanh, sạch, đẹp” trên đường phố và khu dân cư, 75% đường giao thông khu phố được nâng cấp, trải nhựa, bê tông, 100% hộ sử dụng điện, 100% hộ dùng nước sạch, hố xí hợp vệ sinh. Tình hình an ninh trật tự, tệ nạn xã hội: tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của phường luôn ổn định. Trong nhiều năm qua, phường không xảy ra vụ trọng án nào lớn. Nhiệm vụ giao quân của phường năm nào cũng Hoàn thành đạt và vượt chỉ tiêu. Phường được chọn là xây dựng xã phường điển hình không có tệ nạn xã hội. Đến nay về cơ bản phường đã đã làm tốt công tác xây dựng địa phương lành mạnh, không có tệ nạn xã hội nghiêm trọng và đã được công nhận từ năm 2003 và hàng năm đều được tái công nhận. Việc kiện toàn bộ máy tổ chức của UBND được tăng cường, bổ sung thêm, nhưng theo yêu cầu một số cán bộ còn thiếu chưa tuyển được. Vì các tiêu chuẩn, điều kiện yêu cầu đặt ra phải đảm bảo trong khi mức lương thấp nên không thu hút được. |
|
|



